Hệ thống xử lý môi trường nước thải mủ cao su

Submitted by on Aug 19, 2017

I. tính chất nước thải – và hệ thống xử lý nước thải môi trường mủ cao su:

Nước thải chế biến cao su được hình thành chính yếu từ các thời kỳ khuấy trộn, khiến cho đông, gia công cơ học và nước rửa máy móc, bồn cất. Đặc tính ô nhiễm của nước thải ngành cung cấp mủ cao su.

 

 

Nước thải chế biến cao su với pH rẻ, trong khoảng 4.2 tới 5.2 do việc sử dụng axit để làm cho đông tụ mủ cao su. những hạt cao su còn đó trong nước ở dạng huyền phù có nồng độ rất cao. những hạt huyền phù này là những hạt cao su đã đông tụ nhưng chưa kết lại thành mảng lớn, phát sinh trong công đoạn đánh đông và cán crep. ví như lưu nước thải trong một thời kì dài và không có sự đảo lộn dòng thì huyền phù này sẽ tự nổi lên và kết dính thành từng mảng lớn trên bề mặt nước. các hạt cao su tồn tại ở dạng nhũ tương và keo phát sinh trong công đoạn rửa bồn chứa, rửa những chén mỡ, nước tách từ mủ ly tâm và cả trong quá trình đánh đông. Trong nước thải còn đựng 1 lượng lớn protein hòa tan, axit foocmic (dùng trong giai đoạn đánh đông), và N-NH3 (dùng trong giai đoạn kháng đông). Hàm lượng COD trong nước thải là hơi cao, sở hữu thể lên tới 15.000mg/l. Tỷ lệ BOD/COD của nước thải là 0.6 – 0.88 rất thích hợp cho quá trình xử lý sinh học.

 

 

 

 

II. lược đồ khoa học và thuyết minh công nghệ hệ thống xử lý nước thải môi trường

1. lược đồ kỹ thuật

2. Thuyết minh kỹ thuật hệ thống xử lý nước thải môi trường mủ cao su

Nước thải từ những thời kỳ cung cấp được nhặt nhạnh bởi hệ thống cống chung và đưa về hệ thống xử lý tập trung. Nước thải được đưa vào bể gạn mủ để dòng bỏ các hạt cao su ở dạng huyền phù. Trong bể gạn mũ, nước thải đi qua với véc tơ vận tốc tức thời rất chậm, giảm thiểu tối đa khả năng đảo lộn và các hạt cao su sẽ tự động nổi lên trên bề mặt do chênh lệch tỉ trọng so với nước. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả khử COD của bể gạn mũ bằng cách đông tụ tự nhiên với thể lên đến 70% sau thời gian lưu nước là 20h, hàm lượng SS giảm hơn 90%. từ đây, nước thải được đưa về pH thích hợp và dẫn vào bể lọc kị khí mang lớp nguyên liệu đệm là xơ dừa nhằm phân hủy những chất hữu cơ phức tạp thành các chất đơn giản hơn và chuyển hóa chúng thành CH4, CO2, H2O, H2S… Nước thải sau khi qua bể lọc kị khí xơ dừa với COD nghiêng ngả trong khoảng 500 – 1200mg/l sẽ tự chảy qua bể lọc hiếu khí. Bể lọc sinh học hiếu khí vừa mang nhiệm vụ khử tiếp phần COD còn lại, vừa khiến cho giảm mùi hôi có trong nước thải. Hiệu quả của thời kỳ này tương đối cao và hơi ổn định, từ 60 – 80%. tuy nhiên, nước thải đầu ra phải tiếp tục được xử lý qua hồ sinh vật học để tiến hành khử phần COD và NH3 còn lại trong nước thải để đảm bảo tiêu chuẩn xả thải.

(Nguồn: PGS – TS Nguyễn Văn Phước – Xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp bằng phương pháp sinh học)

 

 

Leave a Comment